Hotline: 0941068156

Chủ nhật, 11/01/2026 16:01

Tin nóng

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam

Hoàn thiện quy trình kỹ thuật đo lượng carbon từ Cây Di sản Việt Nam

11 mô hình mẫu ‘lúa chất lượng cao, phát thải thấp’ được triển khai

Trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng năng lực ứng phó biến đổi khí hậu

Tăng cường bảo vệ môi trường dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

10 sự kiện, vấn đề quốc tế nổi bật liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường năm 2025

10 hoạt động nổi bật của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam năm 2025

Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

10 sự kiện nổi bật lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, môi trường năm 2025

15 cổ thụ đủ điều kiện công nhận Cây Di sản Việt Nam

Đảng, Nhà nước tặng quà dịp Đại hội Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ

Đa cổ thụ hơn 400 năm tuổi ở Phú Thọ được công nhận Cây Di sản Việt Nam

Quy định rõ trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu trong cơ chế thực hiện EPR

Đề xuất phân bổ hạn ngạch phát thải cho các nhà máy nhiệt điện, xi măng, thép

Phóng viên Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường đoạt giải khuyến kích Giải Báo chí “Vì một Hải Phòng phát triển”

Hải Phòng: Chú trọng bảo tồn, lan tỏa giá trị Cây Di sản Việt Nam

Từ năm 2028 sẽ áp dụng quản lý hạn ngạch phát thải ở tất cả lĩnh vực trên toàn quốc

2 đa cổ thụ tại xã Sơn Dương được công nhận Cây Di sản Việt Nam

Tập trung nguồn lực cho công nghệ chiến lược và thương mại hóa sản phẩm

Chủ nhật, 11/01/2026

Đến năm 2035, Việt Nam có thể vận hành 450 tuabin gió ngoài khơi

Thứ hai, 24/01/2022 16:01

TMO - Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) lộ trình đưa điện gió ngoài khơi của Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp.

Theo đánh giá của WB, đến năm 2035, sẽ có khoảng 450 tua-bin gió ngoài khơi cỡ lớn vận hành tại Việt Nam, được lắp đặt trong khoảng 10 trang trại gió ngoài khơi móng cố định và một hoặc hai trang trại gió móng nổi.

Bên cạnh đó, dựa trên các kế hoạch hiện tại, sẽ có khoảng 30 trang trại điện gió gần bờ nhỏ sử dụng tua-bin nhỏ hơn. Tuy nhiên, một số dự án gần bờ này có thể không được tiến hành do rủi ro về tác động xấu đến môi trường và xã hội trong khu vực gần bờ.

Theo báo cáo, các dự án điện gió gần bờ là dự án mà trang trại gió rất gần bờ (cách bờ 3 hải lý, tương đương 5,5 km) và có thể tiếp cận trực tiếp từ đất liền. Móng của tua-bin gió trong các dự án này thường là cọc có nắp bằng bê tông, tua-bin được sử dụng là tua-bin gió vốn dùng trên bờ, nhưng với thay đổi nhỏ. Việc lắp đặt tua-bin thường sử dụng sà lan đơn giản và tiến hành ở những vùng nước nông, lặng sóng.

Điện gió ngoài khơi là một cơ hội tốt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển điện lực

Những dự án như vậy cũng được coi là bước đệm giữa điện gió trên bờ và ngoài khơi và Việt Nam đã sớm thiết lập một danh sách các dự án như vậy, đặc biệt ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên báo cáo cũng chỉ rõ: Việc phát triển điện gió ở các khu vực gần bờ này có nguy cơ cao gây ra tác động xấu đến môi trường và xã hội, vì một số lý do. Đó là sự hiện diện của các loài động vật nằm trong Sách Đỏ ở các vùng ven biển; việc các khu vực này gần với các môi trường sống được bảo vệ hoặc nhạy cảm; tác động tiềm tàng đến động lực trầm tích ven biển; tác động tiềm tàng đến các cộng đồng ven biển, đặc biệt là đối với sinh kế của những người đánh bắt tận thu.

Cũng theo đánh giá này, các dự án điện gió gần bờ nằm gần các khu vực đa dạng sinh học trọng điểm, khu vực môi trường sống quan trọng hoặc nhạy cảm của động vật hoang dã sẽ khó đáp ứng các tiêu chuẩn của các quỹ quốc tế, thường tuân theo tiêu chuẩn môi trường và xã hội của WB.

Để tránh hoặc quản lý những tác động này, cần phải hoàn thành quy hoạch không gian biển hiệu quả ngay từ đầu. Các đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) cụ thể cho từng dự án sẽ được yêu cầu để thu thập dữ liệu cơ bản và xác định các biện pháp thích hợp để tránh, giảm thiểu và bù đắp cho các tác động liên quan đến dự án.

Đối với điện gió ngoài khơi, kịch bản phụ tải cơ sở thì đến năm 2030, công suất đặt là 2 GW trong tổng số 137,662 GW,chiếm tỉ lệ 1,45%, còn theo kịch bản phụ tải cao thì đến năm 2030, công suất đặt là 3 GW trong tổng số 147,552 GW, chiếm tỷ lệ 2%.

Nghiên cứu của WB cho thấy, phát triển 10 GW điện gió ngoài khơi tại Việt Nam sẽ tạo ra 800 nghìn việc làm hàng năm với tổng giá trị tạo ra cho nền kinh tế ước đạt hơn 60 tỉ đô la Mỹ trong gia đoạn từ 2020 đến 2035. 

Kinh nghiệm tại các thị trường điện gió ngoài khơi đi trước cho thấy, các mục tiêu dài hạn, đầy tham vọng có thể là nền tảng cho sự phát triển của ngành. Kết quả của lộ trình này cho thấy, mục tiêu 10 GW vào năm 2030 và 25 GW vào năm 2035 có thể sẽ hoàn thành.

Đồng thời, hệ quả của việc tăng trưởng cao hơn là nguy cơ tác động xấu đến môi trường và xã hội cao hơn. Điều này càng đặt ra tầm quan trọng lớn hơn đối với nhu cầu xây dựng quy hoạch không gian biển và khung pháp lý về môi trường trước khi ban hành hợp đồng thuê biển.

 

 

Hoài Dương

 

Thích và chia sẻ bài viết:

Bình luận

    Bình luận của bạn

    cmt
      Web đang chạy kỹ thuật
      Zalo phone Hotline