Hotline: 0941068156

Thứ ba, 13/01/2026 08:01

Tin nóng

[Kiểm soát ô nhiễm không khí] Không đơn giản, cần kiên trì và đồng bộ giải pháp

Phát triển tổng thể thủy lợi Bắc Hưng Hải phục vụ đa mục tiêu và bảo vệ môi trường

Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam

Hoàn thiện quy trình kỹ thuật đo lượng carbon từ Cây Di sản Việt Nam

11 mô hình mẫu ‘lúa chất lượng cao, phát thải thấp’ được triển khai

Trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng năng lực ứng phó biến đổi khí hậu

Tăng cường bảo vệ môi trường dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026

10 sự kiện, vấn đề quốc tế nổi bật liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường năm 2025

10 hoạt động nổi bật của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam năm 2025

Phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới

10 sự kiện nổi bật lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, môi trường năm 2025

15 cổ thụ đủ điều kiện công nhận Cây Di sản Việt Nam

Đảng, Nhà nước tặng quà dịp Đại hội Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ

Đa cổ thụ hơn 400 năm tuổi ở Phú Thọ được công nhận Cây Di sản Việt Nam

Quy định rõ trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu trong cơ chế thực hiện EPR

Đề xuất phân bổ hạn ngạch phát thải cho các nhà máy nhiệt điện, xi măng, thép

Phóng viên Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường đoạt giải khuyến kích Giải Báo chí “Vì một Hải Phòng phát triển”

Hải Phòng: Chú trọng bảo tồn, lan tỏa giá trị Cây Di sản Việt Nam

Từ năm 2028 sẽ áp dụng quản lý hạn ngạch phát thải ở tất cả lĩnh vực trên toàn quốc

Thứ ba, 13/01/2026

Tăng cường bảo vệ môi trường tại các nhà máy nhiệt điện than

Thứ bảy, 20/01/2024 11:01

TMO - Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành Công Thương giai đoạn 2020 - 2025, nhấn mạnh nội dung bảo vệ môi trường ngành nhiệt điện than là trọng tâm trong công tác bảo vệ môi trường ngành Công Thương, hài hòa giữa phát triển, đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.

Theo báo cáo của Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương), cả nước có 33 nhà máy nhiệt điện đốt than (NMNĐ) đang vận hành. Nhà máy có thời gian vận hành lâu nhất là NMNĐ Ninh Bình công suất 100 MW (vận hành được 47 năm, từ năm 1976), nhà máy mới nhất đưa vào vận hành là NMNĐ Vân Phong 1 công suất 1.432 MW (Quý III năm 2023). Trong số 33 NMNĐ đang hoạt động, trong đó 10 nhà máy dùng công nghệ đốt lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) sử dụng than nội địa chất lượng thấp (cám 6 hoặc đuôi cám 6), 23 nhà máy dùng công nghệ than phun (PC) sử dụng than nội địa chất lượng tốt hơn (cám 5), than nhập bitum và á bitum với tổng công suất là 27.264 MW.

Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp cho biết, đa số các NMNĐ đang vận hành sử dụng công nghệ (thông số hơi) cận tới hạn (Sub - Super Critical) có hiệu suất chuyển đổi năng lượng dưới 40% và hai nhà máy sử dụng công nghệ siêu tới hạn (SC) có hiệu suất chuyển đổi năng lượng có thể đến 42%. Các NMNĐ đang xây dựng và chuẩn bị đầu tư đều được áp dụng công nghệ SC và công nghệ trên siêu tới hạn (USC) có hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao, phát thải thấp (hiệu suất chuyển đổi năng lượng có thể đạt đến 45%).

Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong sản xuất, các nhà máy nhiệt điện than chú trọng đầu tư công nghệ, thiết bị xử lý khí thải... 

Các nhà máy đều được trang bị các thiết bị xử lý khói thải như: Thiết bị xử lý bụi bằng công nghệ lọc bụi tĩnh điện (Hệ thống ESP) có hiệu suất cao trên 99,9%, thiết bị khử Lưu huỳnh oxit (SO2) bằng sữa đá vôi (Hệ thống FGD) hoặc nước biển (Sea FGD), thiết bị khử Nito Oxit (NOx) bằng hóa chất Amoniac NH3 có xúc tác (Hệ thống SCR) với hiệu suất cao trên 85% hoặc vòi đốt Low NOx. Sau khi qua các hệ thống xử lý khói thải nói trên, nồng độ phát thải bụi, SO2, NOx trong khói đều được xử lý đáp ứng tiêu chuẩn môi trường theo QCVN 22:2009/BTNMT và QCVN 05:2009/BTNMT. Về lượng tro, xỉ phát thải từ các nhà máy nhiệt điện, lượng phát sinh hàng năm ước khoảng trên 16 triệu tấn và lượng tiêu thụ đạt trên 14 triệu tấn/năm (đạt khoảng hơn 87% lượng phát thải, tăng rất nhiều qua các năm). Ngoài ra, còn lượng tồn tại các bãi lưu trữ dồn qua các năm là khoảng 48,4 triệu tấn.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc trong công tác bảo vệ môi trường tại các nhà máy nhiệt điện. Ðó là các nhà máy này đều sử dụng lượng lớn nước để làm mát sau quá trình trao đổi nhiệt trước khi xả ra kênh tự nhiên và đưa ra sông hoặc biển. Ðiều này dẫn đến trường hợp nước làm mát khi xả ra môi trường tiếp nhận vượt tiêu chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT. Bên cạnh đó, một số nhà máy được đầu tư trong giai đoạn trước như: Ninh Bình, Phả Lại 1,… chưa lắp đặt hệ thống xử lý lưu huỳnh và khi vận hành đầy tải vẫn có khả năng không đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Ngoài ra, quá trình hoạt động của các nhà máy sử dụng công nghệ lò tầng sôi tuần hoàn, nhất là những nhà máy sử dụng công nghệ cũ, cũng tạo ra lượng lớn tro xỉ còn thành phần vôi, có tính dãn nở khi gặp ẩm, cho nên khó tái sử dụng làm vật liệu xây dựng, phụ gia xi-măng và hiện nay chỉ có thể lưu giữ tại bãi thải.

Thời gian qua, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thực hiện công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác bảo vệ môi trường đối với các nhà máy nhiệt điện nói riêng. Trong đó, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-BCT ngày 19/10/2016 về việc tăng cường bảo vệ môi trường ngành Công Thương. Tập trung yêu cầu các NMNĐ thực hiện nhiều giải pháp (hoàn thiện hệ thống quan trắc tự động, liên tục, cung cấp thông tin về kết quả quan trắc, giám sát trên trang thông tin điện tử của công ty, thay thế dầu FO sử dụng cho khởi động lò và đốt kèm bằng dầu DO nhằm giảm lượng tro, bụi, SO2, NOx, đưa hệ thống ESP vào hoạt động ngay từ giai đoạn đầu, …) và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Xử lý tro xỉ là một trong những nhiệm vụ quan trọng đang được đẩy mạnh triển khai. 

Trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, việc thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó sẽ phối hợp với các Bộ ngành liên quan để xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp môi trường gắn với ngành năng lượng. 

Theo Quy hoạch điện VIII, Việt Nam sẽ không xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới sau năm 2030 để đảm bảo giảm phát thải carbon và mục tiêu cam kết tại COP 26 về trung hòa carbon. Để thực hiện mục tiêu này, tất cả các phương án đề xuất, tính toán đều phải thực hiện chuyển đổi năng lượng tại Quy hoạch điện VIII. Theo đó, ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện; tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo (tính cả thủy điện) đạt khoảng 30,9 - 39,2% vào năm 2030, hướng tới mục tiêu tỷ lệ năng lượng tái tạo 47% với điều kiện các cam kết theo Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với Việt Nam được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất và khoảng 67,5 - 71,5% vào năm 2050.

Thực hiện khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước kết hợp với nhập khẩu: Giảm dần tỷ trọng nhiệt điện than, ưu tiên phát triển điện khí trong nước, phát triển các nguồn điện khí LNG nhập khẩu với quy mô phù hợp. Thực hiện chuyển dịch năng lượng bám sát xu thế phát triển công nghệ và giá thành trên thế giới. Dự kiến, năm 2030, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành và các dự án đang triển khai xây dựng, khả năng sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành khoảng 30.127 MW. Định hướng năm 2050, không còn sử dụng than để phát điện, chuyển hoàn toàn sang sinh khối/amoniac, tổng công suất 25.632 - 32.432 MW, sản xuất 72,5 - 80,9 tỷ kWh (5,3 - 6,6% tổng điện năng sản xuất).

Ngoài ra, Bộ Công Thương  phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi các chính sách bảo vệ môi trường bao gồm: Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Bảo vệ môi trường; Quy chuẩn 22:2009/BTNMT - Quy chuẩn về khí thải công nghiệp nhiệt điện để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu ngày cao về bảo vệ môi trường.

Tăng cường chỉ đạo các nhà máy nhiệt điện đầu tư cải tạo, nâng cấp thiết bị máy móc và hệ thống bảo vệ môi trường để đáp ứng tốt hơn yêu cầu chất lượng môi trường theo phân vùng môi trường được phê duyệt tại quy hoạch phát triển của địa phương. Chỉ đạo các NMNĐ nghiên cứu, thí nghiệm việc pha trộn giữa than nội địa với than nhập khẩu để nâng cao hiệu quả kinh tế, an toàn và đảm bảo tốt hơn về môi trường như giảm lượng phát thải, tro xỉ, khí thải.

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường chỉ đạo các nhà máy nhiệt điện than đầu tư cải tạo, nâng cấp thiết bị máy móc và hệ thống bảo vệ môi trường để đáp ứng tốt hơn yêu cầu chất lượng môi trường. Một trong những giải pháp kỹ thuật cần quan tâm là đẩy mạnh việc nghiên cứu, thí nghiệm pha trộn giữa than nội địa với than nhập khẩu để nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm lượng phát thải. Ðối với vấn đề tro xỉ thải, nhiều năm qua, lượng tro xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện than công nghệ mới đã cơ bản được tiêu thụ, chủ yếu lượng tồn kho là từ các nhà máy sử dụng công nghệ cũ.

 

 

Hải Nam 

 

 

 

 

Thích và chia sẻ bài viết:

Bình luận

    Bình luận của bạn

    cmt
      Web đang chạy kỹ thuật
      Zalo phone Hotline