Hotline: 0941068156
Thứ sáu, 16/01/2026 14:01
Thứ sáu, 16/01/2026 09:01
TMO - Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 85/2025 quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) trong đó quy định điều kiện nuôi, trồng loài thuộc Phụ lục này.
Căn cứ Điều 25 của Thông tư trên, cơ sở nuôi, cơ sở trồng phải được cấp mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng, trừ trường hợp không bắt buộc đăng ký mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng: Nuôi, trồng loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES thực hiện theo quy định của pháp luật thủy sản, trừ trường hợp nuôi, trồng loài thủy sản thuộc Phụ lục I CITES để xuất khẩu vì mục đích thương mại hoặc loài thủy sản đồng thời là loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thực hiện theo quy định tại Thông tư này;
Nuôi, trồng loài thuộc Phụ lục I CITES đồng thời thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái thực hiện theo quy định tại mục 2 Chương II Thông tư này; Nuôi dưới 10 cá thể động vật không có nọc độc thuộc lớp chim, bò sát, côn trùng, lưỡng cư hoặc dưới 02 cá thể động vật thuộc lớp thú trừ loài ăn thịt thuộc Phụ lục II, III CITES không vì mục đích thương mại.
Trường hợp nuôi nhiều loài khác nhau thì tổng số cá thể của loài động vật nuôi không vượt quá 10; nuôi loài động vật không có phân bố tự nhiên tại Việt Nam thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều này; Trồng dưới 30 cá thể thực vật thuộc Phụ lục II, III CITES không vì mục đích thương mại. Trường hợp trồng nhiều loài khác nhau thì tổng số cá thể của loài thực vật trồng không vượt quá 30.

(Ảnh minh họa).
Nuôi, trồng loài thuộc Phụ lục CITES phải đảm bảo: Có nguồn gốc hợp pháp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân hoặc có hồ sơ giống cây trồng lâm nghiệp hợp pháp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp đối với trường hợp trồng thực vật là giống cây trồng lâm nghiệp; Đảm bảo an toàn cho con người; tuân thủ các quy định của pháp luật về môi trường, thú y;
Đối với trường hợp nuôi các loài động vật lớp thú thuộc Phụ lục I CITES phải được đánh dấu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân để quản lý và truy xuất nguồn gốc; Trường hợp nuôi, trồng loài thuộc Phụ lục CITES không có phân bố tự nhiên tại Việt Nam và lần đầu tiên đăng ký nuôi, trồng tại Việt Nam phải được Cơ quan khoa học CITES Việt Nam xác nhận bằng văn bản về việc nuôi, trồng không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của loài nuôi, trồng và các loài khác có liên quan trong tự nhiên.
Khai thác, xuất bán, chuyển giao quyền sở hữu, vận chuyển mẫu vật thuộc Phụ lục CITES của cơ sở nuôi, cơ sở trồng đã được cấp mã số hoặc trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 Điều này: Chủ cơ sở nuôi, cơ sở trồng thực hiện việc cập nhật các thông tin vào sổ theo Mẫu số 10 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này và thực hiện quy định về hồ sơ lâm sản theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý lâm sản; xử lý lâm sản, thủy sản là tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nuôi, trồng được quy định: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày đưa động vật, thực vật về cơ sở nuôi, cơ sở trồng, tổ chức, cá nhân gửi thông báo theo Mẫu số 11 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này và bản sao hồ sơ nguồn gốc động vật, thực vật đến cơ quan Kiểm lâm sở tại để theo dõi, quản lý; Mở sổ theo dõi hoạt động nuôi, trồng và ghi chép đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin vào sổ theo Mẫu số 10 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này; Thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho con người; tuân thủ các quy định của pháp luật về môi trường, thú y.../.
Nguyễn Mai
Bình luận