Hotline: 0941068156
Thứ năm, 08/01/2026 11:01
Thứ tư, 07/01/2026 08:01
TMO – Dù đối diện nhiều thách thức, nhất là bị bão số 3 - Yagi (đổ bộ hồi tháng 9/2024) tàn phá gây hậu quả nặng nề. Tuy nhiên, năm 2025, Quảng Ninh tiếp tục phát triển bứt phá, trở thành địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước với 11,89%. Đáng chú ý, không chỉ năm 2025, nhiều năm trước đó, Quảng Ninh luồn nằm trong nhóm những địa phương dẫn đầu về tốc độ phát triển kinh tế-xã hội.
Kết quả ước tính cho thấy tốc độ tăng GRDP của các địa phương năm 2025 dao động trong khoảng từ 5,84% đến 11,89%. Phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng trên 7% (chỉ có 5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng dưới 7%). Nhóm địa phương đạt tăng trưởng trên 10% (với 6/34 tỉnh, thành phố), tiêu biểu là Quảng Ninh và Hải Phòng tăng cao nhất với mức tăng lần lượt là 11,89% và 11,81%, phản ánh khả năng tận dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI và sự bứt phá mạnh mẽ của các ngànhcông nghiệp và dịch vụ.
Nhóm địa phương có tăng trưởng ổn định từ 7,0%-10% chiếm đa số (với 23/34 tỉnh, thành phố), phản ánh xu thế phục hồi và mở rộng chung của nền kinh tế, cũng như tác động lan tỏa tương đối đồng đều của các chính sách vĩ mô. Nhóm tăng trưởng thấp dưới 7% (5/34 tỉnh), cho thấy dù còn khó khăn nhưng không có địa phương nào rơi vào tình trạng tăng trưởng trì trệ. Khoảng cách tăng trưởng giữa nhóm dẫn đầu và nhóm cuối đặt ra yêu cầu tăng cường điều tiết và phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, nhằm hạn chế nguy cơ các địa phương thuộc “nhóm biên dưới” không bị bỏ lại quá xa trong quá trình phát triển kinh tế chung của đất nước.
.png)
Tăng trưởng năm 2025 của Quảng Ninh đạt 11,89%. Ảnh minh họa.
Trong bức tranh kinh tế năm 2025, điểm nhấn nổi bật là nhóm địa phương có bứt phá mạnh mẽ về tốc độ tăng GRDP. Dẫn đầu cả nước là Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Phú Thọ và Bắc Ninh, tăng trưởng từ 10,27% đến 11,89%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung. Các địa phương này có điểm chung là định hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện và lợi thế so sánh của địa phương; nền tảng công nghiệp và dịch vụ tương đối vững chắc; triển khai hiệu quả các giải pháp cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành. Việc phát huy nội lực gắn với thu hút và sử dụng hiệu quả các dòng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn FDI đã tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng GRDP đạt mức cao.
Tăng trưởng đột phá tại các địa phương này gắn liền với vận hành các tổ hợp công nghiệp và dự án FDI quy mô lớn, tiêu biểu như: Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và tổ hợp công nghiệp ô tô Thành Công Việt Hưng, Các dự án FDI trong khu công nghiệp Đông Mai, Hải Hà tại Quảng Ninh; Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải, tổ hợp sản xuất ô tô VinFast, các dự án FDI của tập đoàn LG tại Hải Phòng; các cụm công nghiệp ô tô và công nghiệp hỗ trợ, các khu, cụm công nghiệp Khánh Phú, Gián Khẩu tại Ninh Bình; Khu công nghiệp Thụy Vân, Phù Ninh, Trung Hà tại Phú Thọ; Tổ hợp Samsung, Các khu công nghiệp Yên Phong, Quế Võ, Tiên Sơn tại Bắc Ninh…. Bên cạnh đó, một số địa phương tận dụng lợi thế quy mô kinh tế còn nhỏ để tạo bước nhảy vọt về tỷ trọng, thông qua đột phá trong giải ngân vốn đầu tư công và phát triển các lĩnh vực mới.
Các địa phương gồm Hà Nội, TP. HCM, Hải Phòng, Đồng Nai và Bắc Ninh tiếp tục giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP cả nước. Đây là 5 địa phương có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước; năm 2025, nhóm này đóng góp đến 55,4% vào tăng trưởng cả nước. Hà Nội đạt mức tăng trưởng GRDP 8,16%, TP. HCM tăng 7,53%, hai địa phương này đóng góp 36,1 điểm % vào tăng trưởng cả nước.
Hà Nội và TP. HCM lần lượt đạt mức tăng trưởng GRDP là 8,16% và 7,53%, đóng góp tương ứng 12,94 % và 23,11% vào tăng trưởng chung cả nước. Động lực chủ yếu đến từ khu vực dịch vụ, đặc biệt là các ngành có giá trị gia tăng cao như thương mại, tài chính ngân hàng, vận tải, logistics, du lịch, công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng.
Tại Hà Nội, khu vực dịch vụ tăng 8,83% (đóng góp khoảng 78,02% trong tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm). Khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì mức tăng 7,46%, đóng góp 21,09% cho thấy sản xuất và đầu tư xây dựng tiếp tục phục hồi theo hướng ổn định. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,55% và đóng góp 0,89%, là mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây do thành phố tiếp tục cơ cấu lại ngành trồng trọt theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất; mở rộng các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo quy trình GAP, VietGAP, rau hữu cơ…
TP. HCM tăng trưởng 7,53% (nếu loại trừ dầu thô đạt 8,03%). Động lực chính đến từ khu vực dịch vụ với mức tăng 8,76%, đóng góp 65,98% vào tăng trưởng, khẳng định vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của thành phố. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,14%, đóng góp 33,53%, tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong phục hồi sản xuất và mở rộng hạ tầng. Ngược lại, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng 2,36%, với mức đóng góp 0,49%, phản ánh đặc trưng của một đô thị đặc biệt với tỷ trọng nông nghiệp rất nhỏ trong GDP.
Hải Phòng đạt mức tăng trưởng kinh tế 11,81%, đóng góp 8,58% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định qua nhiều năm. Động lực chính dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng là khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt ngành công nghiệp chế biến chế tạo phục hồi mạnh mẽ, tăng 15,93% và đóng góp tới 66,9% vào tăng trưởng. Bên cạnh đó, ngành vận tải và kho bãi tăng 13,11%, đóng góp 15,46%, củng cố vai trò của Hải Phòng như một trung tâm logistics và cảng biển lớn hàng đầu cả nước.
Đồng Nai ghi nhận tốc độ tăng GRDP ước đạt 9,63%, đóng góp 5,49% vào tăng trưởng chung của cả nước, tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những địa phương công nghiệp trọng điểm của vùng Đông Nam Bộ. Trong cơ cấu tăng trưởng, khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng11,52%, đóng góp khoảng 67,15% vào mức tăng trưởng của tỉnh. Nhiều ngành công nghiệp trọng điểm đều tăng trên 10% như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất thiết bị điện. Lĩnh vực xây dựng tăng mạnh, gắn với việc đẩy nhanh tiến độ thi công Cảng hàng không quốc tế Long Thành và triển khai nhiều công trình đường giao thông, cấp thoát nước mới. Khu vực dịch vụ tăng 9,39%, đóng góp 28,04% vào tăng trưởng, với sự khởi sắc của các ngành lưu trú, ăn uống; vận tải, kho bãi; hoạt động kinh doanh bất động sản; vui chơi, giải trí do nhu cầu tiêu dùng tăng và các chương trình kích cầu tiều dùng được triển khai rộng rãi.
Sau khi sáp nhập với Bắc Giang, Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao trong vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc. Sự kết hợp này tạo nên lợi thế bổ trợ rõ nét: Bắc Ninh vốn là thủ phủ công nghiệp điện tử với sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Canon, Amkor; trong khi Bắc Giang nổi lên với thế mạnh của công nghiệp hỗ trợ, tốc độ tăng trưởng cao và khả năng thu hút FDI mạnh mẽ vào sản xuất, chế tạo. Nhờ đó, địa phương hình thành một trung tâm sản xuất đa dạng, quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đồng thời, sự hợp nhất mở rộng không gian phát triển, tối ưu hóa nguồn lực và tạo cực tăng trưởng mới, thúc đẩy liên kết vùng theo hướng bền vững…/.
VĂN NHI
Bình luận