Hotline: 0941068156
Thứ bảy, 29/11/2025 19:11
Thứ bảy, 29/11/2025 18:11
TMO - Thời gian qua, ngành logistics đã có những kết quả tích cực, tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế, trong đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong ngành thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung và chuẩn đo lường thống nhất.
Ngày 29/11, tại Đà Nẵng, phát biểu trong Diễn đàn Logistics Việt Nam 2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nêu rõ, Đảng, Nhà nước rất quan tâm và đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển ngành logistics. Các nghị quyết của Bộ Chính trị, các thể chế, cơ chế, chính sách do Quốc hội, Chính phủ ban hành về phát triển các vùng đều có nội dung về logistics. Việc thực hiện các chủ trương, chính sách này đã mang lại những kết quả tích cực.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam 2025. Ảnh: QH
Theo đó, tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics nhanh và ổn định, đạt bình quân 14-16%/năm, đóng góp trực tiếp vào GDP hàng năm ở mức 4,5-5% GDP. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2023, Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia về Chỉ số Năng lực logistics (LPI) và thuộc Top 5 trong ASEAN cùng với 4 quốc gia Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia. Chi phí logistics đã giảm xuống, còn khoảng 16% GDP (từ mức trên 20% GDP vào năm 2014), tiết kiệm hàng tỷ USD mỗi năm cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Hệ thống kết cấu hạ tầng logistics được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là mạng lưới cảng biển, sân bay, đường cao tốc, trung tâm logistics tại các vùng kinh tế trọng điểm như: TP. HCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Khu vực doanh nghiệp logistics ngày càng lớn mạnh với hơn 34.000 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ứng dụng công nghệ cao trong quản trị vận hành.
Các hiệp định thương mại tự do còn tạo ra môi trường thuận lợi để logistics Việt Nam hội nhập sâu, mở rộng thị trường dịch vụ quốc tế trên các bình diện: Thị trường – hạ tầng (theo chuẩn quốc tế) – chuỗi cung ứng – hợp tác, đầu tư – nguồn nhân lực và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế. Những kết quả này đã góp phần trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa, giảm chi phí xuất nhập khẩu, thúc đẩy tăng trưởng thương mại quốc tế và luân chuyển hàng hóa trong nước, quy mô thương mại quốc tế năm 2025 khoảng 900 tỷ USD.
Tuy nhiên, bện cạnh kết quả đã đạt được, ngành logistics vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Cụ thể: Chi phí logistics ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao so với các nước trong khu vực (Singapore chỉ 8%, Malaysia 12%, trung bình thế giới khoảng 11%). Liên kết vùng, kết nối hạ tầng chưa đồng bộ, hạn chế, dễ bị tác động khi xảy ra thiên tai. Doanh nghiệp logistics quy mô nhỏ chiếm đa số, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu vắng doanh nghiệp lớn.
Chưa hình thành được trung tâm logistics cấp quốc gia trung chuyển hàng hoá quốc tế. Ngành còn thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, phù hợp với môi trường làm việc quốc tế. Thể chế logistics còn chưa quy định cụ thể các loại hình dịch vụ logistics mới cho thương mại điện tử, logistics xanh, logistics hàng đặc biệt. Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong logistics thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung và chuẩn đo lường thống nhất.
Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh, những hạn chế đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển, chuyển đổi mạnh trạng thái từ "hỗ trợ logistics nhỏ lẻ" sang "phát triển logistics hiện đại, thông minh" thành một ngành kinh tế quan trọng nhằm phát huy tối đa năng lực của các địa phương; thúc đẩy liên kết các vùng kinh tế, khu vực và quốc tế; coi dịch vụ logistics là yếu tố động lực, dịch vụ thiết yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo và phục vụ" theo đúng tinh thần Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn tới mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Những kết quả đạt được là chưa xứng tầm với ưu thế về vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế, ngành logistics Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm liên tục trong 5 năm tới, các ngành, các địa phương, lĩnh vực phải tăng trưởng 2 con số. Trong đó, riêng ngành logistics phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình gấp 1,5 lần mức tăng trưởng GDP, cụ thể là tỉ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trong nước phải đạt 6-7%; tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm đạt 15-16%; kéo giảm chi phí logistics so với tổng sản phẩm trong nước xuống tương đương trung bình thế giới, khoảng 11-12%.

Cảng Đà Nẵng.
Để đưa ngành logistics phát triển tương xứng với tiềm năng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách logistics đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi, giảm mạnh thủ tục hành chính và các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân, doanh nghiệp. Phát triển hạ tầng logistics xanh, số, thông minh, hiện đại. Kết nối cơ sở dữ liệu logistics với Một cửa quốc gia. Tăng cường hợp tác quốc tế về logistics xanh, logistics carbon thấp và duy trì tỉ trọng giá trị gia tăng ở mức cao khoảng 20-25% vào năm 2030.
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển xanh, phát triển số, thông minh, hiện đại; cùng với phát triển các doanh nghiệp logistics lớn, đa quốc gia, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực để phát triển logistics xanh, số, hiện đại, thông minh; đẩy mạnh hợp tác công tư, kết hợp nguồn lực nhà nước và tư nhân, trong nước và ngoài nước, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vốn vay…
Quản trị logistics phải thông minh thông qua kết nối doanh nghiệp, cơ quan quản lý, hải quan, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải; khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, nhất là các startup công nghệ số, nền tảng kết nối vận tải, quản lý kho, thương mại điện tử. Phát triển đồng bộ các dịch vụ liên quan, phục vụ ngành logistics như ngân hàng, bảo hiểm, trung tâm tài chính, chứng khoán, y tế, giáo dục.
Liên kết, kết nối logistics Việt Nam với hệ thống logistics khu vực, quốc tế với tầm nhìn và hành động, liên kết tạo sức mạnh, hợp tác tạo ra lợi ích và đối thoại củng cố lòng tin. Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong ngành logistics, đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu. “Nông nghiệp là điểm tựa, là trụ đỡ, đã giúp đất nước thoát nghèo; công nghiệp giúp đất nước trở thành nước có thu nhập trung bình cao và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ giúp đất nước trở thành nước phát triển, thu nhập cao…/.
LÊ HÙNG
Bình luận