Hotline: 0941068156
Thứ sáu, 02/01/2026 19:01
Thứ sáu, 02/01/2026 15:01
TMO - Tỉnh Lào Cai sẽ xây dựng và phát triển nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho 1 - 2 sản phẩm của ngành hàng trồng trọt chủ lực của tỉnh như lúa gạo, chè, cây ăn quả...
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng đến sản xuất nông nghiệp, yêu cầu chuyển đổi sang mô hình canh tác xanh, phát thải thấp không còn là xu hướng mà đã trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Tại tỉnh Lào Cai, quá trình chuyển dịch này đang được triển khai đồng bộ từ định hướng của ngành nông nghiệp và môi trường đến những mô hình cụ thể.
Tại các xã: Thác Bà, Hưng Khánh, Văn Chấn, Mậu A đã được triển khai mô hình sản xuất lúa bền vững giảm phát thải khí nhà kính trong giai đoạn 2023 - 2025 do tổ chức Stichting Ofam Novib (Hà Lan) tài trợ với tổng diện tích 24 ha. Mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như: cấy mạ thưa, tưới ngập - khô xen kẽ, giảm sử dụng phân đạm hóa học, không đốt rơm rạ sau thu hoạch.
Đặc biệt, việc ứng dụng phần mềm Rice Hero cho phép đo đạc, theo dõi lượng phát thải khí nhà kính tại từng thửa ruộng, giúp quá trình đánh giá hiệu quả được thực hiện minh bạch, khoa học. Kết quả cho thấy, lượng phát thải trong mô hình giảm tới 70 - 73% so với phương thức canh tác truyền thống.
Tiếp tục khai thác tiềm năng, lợi thế trong lĩnh vực trồng trọt, tỉnh Lào Cai hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển sản xuất trồng trọt sinh thái, hiện đại, phát thải thấp; góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững, giảm thiểu tác động đến môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực.

Tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải (Ảnh minh họa: LL).
Kế hoạch triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đọan 2025-2035, tầm nhìn đến 2050” trên địa bàn tỉnh xác định rõ mục tiêu đến năm 2035 phấn đấu đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt của tỉnh sẽ góp phần giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính (CO2tđ) so với năm cơ sở 2020. Phấn đấu 70% diện tích gieo trồng lúa áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa giảm phát thải, 60% diện tích cây trồng cạn ứng dụng kỹ thuật quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp IPHM (Cây lúa, cây chè, cây ăn quả...).
Xây dựng và phát triển nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho 1 - 2 sản phẩm của ngành hàng trồng trọt chủ lực của tỉnh như lúa gạo, chè, cây ăn quả. Tổ chức triển khai ít nhất 1 - 2 mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải có khả năng nhân rộng; thí điểm một số mô hình canh tác có khả năng phát triển tín chỉ các-bon đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức quốc tế. Xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải trong trồng trọt kết nối đồng bộ với Hệ thống đăng ký quốc gia.
Tầm nhìn đến năm 2050 toàn tỉnh phấn đấu 100% diện tích cây trồng chủ lực áp dụng quy trình canh tác bền vững, phát triển theo hướng phát thải thấp, sinh thái và hiện đại, trở thành trụ cột quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh của nền nông nghiệp tỉnh Lào Cai. Hình thành cơ sở dữ liệu số hóa và phát thải trong trồng trọt, kết nối đồng bộ với hệ thống giám sát quốc gia; xây dựng và phổ cập nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho ít nhất 3-5 ngành hàng nông sản chủ lực của tỉnh.
Tỉnh sẽ lựa chọn áp dụng các biện pháp kỹ thuật giảm phát thải phù hợp trong sản xuất trồng trọt của tỉnh tổ chức rà soát, đánh giá hiện trạng phát thải nhà kính trong sản xuất trồng trọt, triển vọng bán tín chỉ carbon của các ngành hàng trồng trọt trên địa bàn;
Đối với lúa: Đẩy mạnh áp dụng kỹ thuật canh tác một phải năm giảm, ba giảm ba tăng, áp dụng tưới ngập khô xen kẽ, hệ thống thâm canh cải tiến (SRI); sử dụng phân bón hữu cơ, vi sinh, phân chậm tan sẽ thay dần phân vô cơ; thuốc bảo vệ thực vật hóa học được hạn chế, thay thế bằng giải pháp sinh học; tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để sản xuất phân hữu cơ, than sinh học; nguyên liệu trồng nấm...
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt phù hợp với đặc điểm vùng sinh thái và trình độ canh tác của vùng. Tiếp tục phát triển mô hình luân canh cây trồng hợp lý một vụ lúa, một vụ màu để nâng cao sức khỏe đất, giảm phát thải. Tiếp tục phát triển diện tích các cây trồng lâu năm có giá trị cao vừa giúp tăng hiệu quả kinh tế vừa hấp thu các-bon:
Đối với Cây chè: Tiếp tục duy trì và mở rộng vùng chè hữu cơ đạt trên 2.500 ha tại các xã Bản Liền, Phình Hồ, Sơn Lương, Văn Chấn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo xuất khẩu chính ngạch.
Đối với cây ăn quả: Tập trung phát triển các loại cây trồng chủ lực có lợi thế, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng. Cây chuối: Phát triển tại những địa phương có điều kiện tự nhiên phù hợp; xây dựng vùng sản xuất tập trung theo hướng VietGAP, cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, với tổng diện tích khoảng 3.000 ha. Cây dứa: Phát triển sản xuất chuyên canh, áp dụng phương pháp rải vụ và các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tập trung tại các vùng có điều kiện thích hợp, với diện tích khoảng 3.000 ha. Các cây trồng tiềm năng khác: Tiếp tục duy trì và phát triển, phấn đấu đến năm 2035 đạt diện tích 6.050 ha cây ăn quả ôn đới và 7.500 ha cây có múi.
Triển khai mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải gắn với chuỗi giá trị; Phấn đấu đến năm 2035 có ít nhất 1-2 mô hình được đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) về phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon trong sản xuất lúa, thực hiện tại các xã có vùng sản xuất lúa trọng điểm với quy mô khoảng 4.000 ha; lựa chọn các hợp tác xã hoặc nhóm hộ nông dân đại diện thực hiện, góp phần thúc đẩy sản xuất lúa bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và tăng thu nhập cho nông dân thông qua thị trường tín chỉ các-bon.

Tỉnh sẽ lựa chọn áp dụng các biện pháp kỹ thuật giảm phát thải phù hợp trong sản xuất trồng trọt (Ảnh: MX).
Lào Cai hướng tới mục tiêu thiết lập cơ sở dữ liệu về phát thải ngành trồng trọt tại địa phương, liên thông cơ sở dữ liệu với hệ thống kiểm kê khí nhà kính Quốc gia; phối hợp đo lường, báo cáo mức giảm phát thải khí nhà kính từ sản xuất nông nghiệp định kỳ theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ứng dụng các công cụ hỗ trợ thu thập dữ liệu thực địa, số hóa quá trình theo dõi và đánh giá (ứng dụng di động, phần mềm nền tảng web), tạo thuận lợi cho cán bộ kỹ thuật và nông dân tiếp cận.
Để triển khai hiệu quả kế hoạch, tỉnh tổ chức các chương trình truyền thông, tập huấn chuyển đổi nhận thức chung về canh tác giảm phát thải, về phát triển các chuỗi giá trị trồng trọt theo hướng tuần hoàn, bền vững, giảm phát thải... Tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên sâu về kỹ thuật canh tác giảm phát thải, sử dụng cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính hệ thống MRV (đo lường - báo cáo - thẩm định), tín chỉ các-bon ... cho cán bộ quản lý nông nghiệp các cấp, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp và nông dân nòng cốt.
Xúc tiến thương mại, kết nối thị trường cho các sản phẩm phát thải thấp: Triển khai cấp nhãn hiệu chứng nhận “Phát thải thấp” đối với 3-5 ngành hàng chủ lực, tiềm năng như lúa gạo, chè, cây ăn quả... Ưu tiên xây dựng vùng trồng đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và các tiêu chuẩn tiên tiến tương đương; cấp mã số vùng trồng và hỗ trợ truy xuất nguồn gốc để phục vụ chế biến, bảo quản, kéo dài thời gian tiêu thụ và xuất khẩu, đặc biệt sang các thị trường yêu cầu về mã số vùng trồng như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, Nga và các nước thuộc khối ASEAN.
Hàng năm, thực hiện 01 chương trình truyền thông tiêu dùng xanh, ưu tiên lựa chọn nông sản phát thải thấp, hướng tới thay đổi hành vi tiêu dùng bền vững. Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến đối với các sản phẩm trồng trọt phát thải thấp kết hợp phát triển du lịch sinh thái, nông nghiệp xanh nhằm quảng bá và nâng cao giá trị thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản của địa phương như các sản phẩm gạo đặc sản, mận Tam Hoa, mận Tả Van, chè Shan, bưởi Đại Minh, cam sành Lục Yên...
Ưu tiên triển khai các dự án, đề tài nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, các mô hình trình diễn trong kỹ thuật canh tác giảm phát thải, phù hợp với từng loại cây trồng và điều kiện sản xuất cụ thể của địa phương. Đẩy mạnh ứng dụng các biện pháp khoa học - công nghệ như sử dụng phế phụ phẩm để sản xuất than sinh học, dùng phân bón hữu cơ và thuốc bảo vệ thực vật sinh học… nhằm giảm phát thải, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng đất.../.
Trần Tuấn
Bình luận