Hotline: 0941068156
Thứ ba, 27/01/2026 11:01
Thứ ba, 27/01/2026 06:01
TMO - Các khu bảo tồn biển giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ đa dạng sinh học. Để đáp ứng yêu cầu mới, nhiều địa phương đang đẩy mạnh hiện đại hóa quản lý thông qua công nghệ số, dữ liệu hóa và hệ thống giám sát, góp phần nâng cao năng lực bảo vệ và phát triển bền vững biển đảo.
Trước những thách thức từ biến đổi khí hậu, khai thác quá mức và ô nhiễm môi trường, việc hiện đại hóa công tác quản lý tại các khu bảo tồn biển trở thành yêu cầu tất yếu.
Do đó, nhiều địa phương đã chủ động ứng dụng công nghệ số, hệ thống giám sát bằng vệ tinh, thiết bị bay không người lái và cơ sở dữ liệu điện tử trong theo dõi tài nguyên biển. Nhờ đó, hoạt động tuần tra, kiểm soát được thực hiện chính xác, kịp thời, hạn chế vi phạm.
Công tác thu thập, phân tích dữ liệu về sinh vật biển, rạn san hô, thảm cỏ biển được chuẩn hóa, phục vụ tốt hơn cho công tác quy hoạch và bảo tồn. Việc hiện đại hóa còn giúp nâng cao năng lực quản lý, minh bạch thông tin và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên biển. Theo thống kê, đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo.
Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển ngày càng trở nên hiệu quả. Tại Việt Nam, năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1539/ QĐ-TTg ngày 10/12/2024 phê duyệt Đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phục hồi hệ sinh thái đến năm 2030.
Theo đó, tổng diện tích biển được khoanh vùng khoảng 442ha (0,44% diện tích tự nhiên biển Việt Nam). Bên cạnh việc mở rộng, phục hồi các khu bảo tồn biển hiện có, Đề án cũng đặt mục tiêu quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở một số vùng biển tại một số thời điểm (tổng diện tích khoảng 6% diện tích vùng biển). Tình trạng ô nhiễm môi trường biển, biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng, khai thác bừa bãi, xâm hại của các loài thủy sản ngoại lai, các hoạt động kinh tế, du lịch không được kiểm soát tốt… khiến cho yêu cầu quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn biển tại Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết.
Lãnh đạo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhấn mạnh, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ biển là một trong những khâu đột phá chiến lược được xác định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Việc chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang kinh tế biển xanh, tuần hoàn không thể thành công nếu thiếu các công nghệ mũi nhọn và tư duy quản lý hiện đại. Năm 2023, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan và địa phương triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển.
Đồng thời, ban hành Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản trên 59 khu vực bảo vệ và 63 khu vực hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi, khu tập trung sinh sản và đang sinh trưởng chưa đến thời gian khai thác…
Bên cạnh những thuận lợi vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng khai thác, đánh bắt thủy sản trái phép còn diễn ra khá phổ biến; các hoạt động kinh tế, du lịch xâm phạm an toàn và gây hại đến môi trường biển, môi trường sống của các loài sinh vật biển; diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu; rác thải nhựa đại dương… đang đe dọa an toàn của các loài sinh vật tại khu bảo tồn biển Việt Nam.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn biển có ý nghĩa quan trọng. (Ảnh minh hoạ).
Tại Quyết định số 1539, Chính phủ đã đề ra các nhóm giải pháp chính nhằm thực hiện có hiệu quả trong quản lý, bảo vệ tại các khu bảo tồn biển. Trong đó có nhóm giải pháp ưu tiên đầu tư, triển khai các ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, bảo tồn, bảo vệ hệ sinh thái biển; phục hồi các hệ sinh thái suy thoái; ngăn chặn các nguy cơ gây hại cho sinh vật trong khu bảo tồn biển.
Đại diện Viện Khoa học môi trường Biển và Hải đảo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, việc quản lý các khu bảo tồn biển chưa mang lại hiệu quả như mong muốn có một phần nguyên nhân từ thiếu áp dụng các giải pháp công nghệ. Nghiên cứu cho thấy, chưa có nhiều khu bảo tồn biển ứng dụng các công nghệ mới vào công tác quản lý. Một số nơi đã áp dụng thì thiếu đồng bộ, thực hiện phân tán, không đồng đều, thiếu sự kết nối và cơ chế kiểm soát…
Nguyên nhân do đầu tư thiếu đồng bộ, chưa tập trung, thiếu nguồn vốn và cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan, thiếu công nghệ chiến lược, thiếu nhân lực chất lượng cao cũng như sự chỉ đạo đồng nhất và chiến lược đầu tư tổng thể từ Trung ương đến địa phương. Như vậy, song song với các giải pháp về cơ chế, chính sách, nhân lực, cơ chế phối hợp, chỉ đạo để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ.
Hiện đại hóa trong quản lý các khu bảo tồn biển đang mở ra một hướng tiếp cận chủ động, khoa học và minh bạch hơn trong công tác bảo vệ tài nguyên đại dương. Khi công nghệ được ứng dụng sâu vào giám sát, đánh giá và quản lý, các hoạt động bảo tồn không còn mang tính thủ công, bị động mà chuyển sang kiểm soát theo dữ liệu và dự báo.
Điều này giúp phát hiện sớm nguy cơ suy thoái hệ sinh thái, kịp thời ngăn chặn vi phạm và nâng cao chất lượng quyết định quản lý. Quan trọng hơn, quá trình hiện đại hóa tạo ra sự kết nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và cộng đồng ven biển, hình thành mạng lưới bảo vệ biển đa chiều. Với nền tảng đó, các khu bảo tồn biển của Việt Nam sẽ không chỉ được gìn giữ tốt hơn trước mắt mà còn phát huy vai trò lâu dài trong bảo vệ đa dạng sinh học, ổn định sinh kế và bảo đảm an ninh sinh thái quốc gia.
Thu Nga
Bình luận