Hotline: 0941068156
Thứ bảy, 24/01/2026 11:01
Thứ bảy, 24/01/2026 05:01
TMO - UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành quy định mới về chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng nguồn thu từ rừng theo hướng minh bạch, hiệu quả. Quy định này được kỳ vọng sẽ tạo động lực để người dân, cộng đồng và các chủ rừng gắn bó chặt chẽ hơn với công tác bảo vệ rừng.
Theo đó, UBND tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 03/2026/QĐ-UBND về việc Quy định một số nội dung chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh. Về đối tượng áp dụng, gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật có hoạt động liên quan đến cung ứng, sử dụng và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Quy định nêu rõ, áp dụng bốn hệ số K thành phần theo quy định tại điểm b khoản 2 mục III Phụ lục VII kèm theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2024/NĐ-CP.
Trong đó, Hệ số K1 điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo trữ lượng rừng. Hệ số K1 có giá trị bằng: 1,00 đối với rừng giàu; 0,95 đối với rừng trung bình; 0,90 đối với rừng nghèo, rừng nghèo kiệt, rừng chưa có trữ lượng, rừng tre nứa, rừng không phân chia trữ lượng và rừng trồng. Hệ số K2 điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo mục đích sử dụng rừng được UBND tỉnh phê duyệt, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Hệ số K2 có giá trị bằng: 1,00 đối với rừng đặc dụng; 0,95 đối với rừng phòng hộ; 0,90 đối với rừng sản xuất.

(Ảnh minh hoạ: ND).
Hệ số K3 điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo nguồn gốc hình thành rừng, gồm rừng tự nhiên và rừng trồng. Hệ số K3 có giá trị bằng: 1,00 đối với rừng tự nhiên; 0,90 đối với rừng trồng. Hệ số K4 điều chỉnh mức chi trả dịch vụ môi trường rừng theo mức độ khó khăn được quy định đối với diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng nằm trên địa bàn các xã khu vực I, II, III theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Hệ số K4 có giá trị bằng: 1,00 đối với xã thuộc khu vực III; 0,95 đối với xã thuộc khu vực II; 0,90 đối với xã thuộc khu vực I và các xã chưa được Thủ tướng Chính phủ quy định. Quyết định cũng quy định số lần tạm ứng, tỷ lệ tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng là ba lần trong năm; trường hợp các chủ rừng có số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo kế hoạch thu, chi trong năm đã được UBND tỉnh phê duyệt nhỏ hơn 20.000.000 đồng/năm thực hiện tạm ứng một lần trong năm.
Tỷ lệ tạm ứng tối đa 70% theo kế hoạch thu, chi trong năm đã được UBND tỉnh phê duyệt. Đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nước, mức sử dụng tối thiểu phải thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là từ 100 m³ nước mỗi ngày đêm, tương đương 36.500 m³ mỗi năm.
Bên cạnh đó, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 trong trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ.
Ngoài ra, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng của tổ chức nuôi trồng thủy sản hoặc liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 trong trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ.
Song song đó, đối với diện tích rừng có số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng lớn hơn 2 lần mức hỗ trợ bình quân của ngân sách nhà nước cho khoán bảo vệ rừng (Mức kinh phí khoán bảo vệ rừng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 19 Nghị định 58/2024/NĐ-CP về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp), điều tiết cho diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng tại các lưu vực có số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng bình quân 01 ha từ thấp nhất trở lên.
Nguyễn Quang
Bình luận